Smartex

Ngành thủy sản Việt Nam Featured

seafood-export

1. Tổng quan

XK thủy sản 3 tháng đầu năm 2014 đạt 1,65 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái chủ yếu do XK tôm tiếp tục tăng trưởng mạnh (88%), cá tra hồi phục nhẹ, cá ngừ, mực bạch tuộc và các mặt hàng hải sản khác vẫn giảm sâu.

XK tôm chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 48%, so với năm ngoái chiếm 34%, cá tra bị giảm tỷ trọng từ 31% xuống còn 25%, cá ngừ giảm mạnh từ 12% xuống còn 7%.

Đúng như dự đoán, XK tôm chân trắng năm nay tiếp tục tăng mạnh do nông dân tăng diện tích nuôi sau khi đạt kết quả tốt trong năm trước. XK tôm chân trắng 3 tháng đầu năm đạt 481 triệu USD, tăng 212% so với cùng kỳ năm ngoái, tôm sú đạt 261 triệu USD, tăng 13%, đưa tổng XK tôm lên 798 triệu USD, tăng 105%.

XK cá tra tháng 1 và tháng 3 giảm, chỉ tăng mạnh trong tháng 2, do vậy, tổng XK 3 tháng tăng 5,2% so với cùng kỳ đạt 409 triệu USD.

Mặc dù hoạt động khai thác biển 3 tháng đầu năm khá thuận lợi, sản lượng khai thác khá cao, nhưng sản lượng cá ngừ - loài XK chính lại giảm. XK cá ngừ 3 tháng đầu năm giảm 26% đạt 115 triệu USD, trong đó, sản phẩm cá ngừ tươi/đông lạnh (HS 03) ngày càng sụt giảm mạnh (giảm 33% trong 3 tháng)

XK mực, bạch tuộc tháng 3 tăng mạnh đưa tổng XK 3 tháng tăng gần 6% đạt gần 92 triệu USD, XK các mặt hàng cá biển khác đạt 204 triệu USD, tăng 20%.

Quý I/2014, Việt Nam XK thủy sản sang 146 thị trường so với cùng kỳ năm ngoái xuất sang 135 thị trường. XK sang tất cả các thị trường đều tăng trưởng khả quan (11 - 74%). Top 3 thị trường: Mỹ, EU, Nhật Bản chiếm 56% giá trị XK, tăng so với cùng kỳ năm 2013 là 54,4%.

2. Khó khăn

Năm tháng đầu năm 2012, xuất khẩu thủy sản Việt Nam tuy vẫn đạt 2,324 tỷ USD, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng thực trạng của ngành sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam đang khó khăn, với nhiều bất cập, khiến lợi nhuận giảm. Nếu không có các tác động thay đổi, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng bền vững của ngành xuất khẩu thủy sản trong tương lai.

Thiếu nguyên liệu

Mặc dù số lượng thống kê của Tổng cục Thủy sản về sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu ngày càng tăng như mấy năm trước. Nguyên nhân do sản lượng 2 loài thủy sản nuôi chính không ổn định, dịch bệnh trên tôm làm giảm sản lượng, nhất là với tôm sú, diện tích nuôi cá tra cũng giảm do nông dân thiếu vốn đầu tư nuôi và do giá cá bất ổn làm ảnh hưởng tâm lý người nuôi.

Sản lượng các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, mực, bạch tuộc vẫn thấp, trong khi sản lượng tăng lại tập trung chủ yếu vào các loài cá có giá trị thấp, cá tạp… Người nuôi và ngư dân thiếu vốn để sản xuất, đầu tư trở lại khi tôm hoặc cá tra bị rớt giá, dịch bệnh. Các doanh nghiệp khó thu mua nguyên liệu vì nông dân không bán chịu, trong khi vòng quay vốn chậm do thị trường tiêu thụ khó khăn về tài chính.

Thiếu vốn

Với mức lãi suất quá cao 19-20% trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và doanh nghiệp đều thực sự khó khăn để duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác đang tăng mạnh (5-10%). Vốn vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với ngành thủy sản sau vụ vỡ nợ của một số doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp không còn vốn để duy trì sản xuất.

Đặc biệt đối với ngành sản xuất cá tra, thiếu vốn trở nên nghiêm trọng. Theo khảo sát của Vasep, có đến hơn 90% số doanh nghiệp mong muốn được tăng hạn mức vay vốn, từ 10-1.400 tỷ đồng, nhằm bổ sung vốn lưu động cho chế biến, cho nuôi cá tra và mua nguyên nhiên liệu, vật liệu, thức ăn cho vùng nuôi. 53,85% số doanh nghiệp tôm có nhu cầu vay vốn đầu tư cho hoạt động phát triển (từ 2-300 tỷ đồng) để bổ sung đầu tư nuôi tôm chân trắng, trang bị máy móc, sửa chữa, bổ sung năng lực cấp đông, vốn trung hạn cho hoạt động xuất khẩu, xây nhà máy thức ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị. Đối với ngư dân, vấn đề tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và thiết bị để bảo quản cá sau thu hoạch.

Bên cạnh đó, các chi phí sản xuất đểu tăng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho thủy sản xuất khẩu. Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản còn phải đối phó với áp lực tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, như giá nhiên liệu, điện, nước, nhân công, bao bì, cước phí vận chuyển… Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương, phí kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300%... cũng góp phần làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều suy giảm, cạnh tranh thị phần khá khốc liệt.

Khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu cùng với sự gia tăng chi phí sản xuất khiến cho số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản trong quý I năm nay chỉ còn khoảng 473 doanh nghiệp, giảm 40% so với 800 doanh nghiệp của cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên số doanh nghiệp không xuất quý I năm nay hầu hết là doanh nghiệp thương mại với doanh số thấp, nên chỉ ảnh hưởng không nhiều. Trong khi đó, kim ngạch của các doanh nghiệp lớn cao hơn so với năm ngoái. Top 10 doanh nghiệp quý I/2011 chỉ chiếm 18,5% doanh số, nhưng năm nay tăng lên 20,5%. Kết quả trên cho thấy đã có sự phân hóa mạnh trong quy mô và năng lực quản trị của các doanh nghiệp thủy sản.

Khủng hoảng thị trường

Thị trường châu Âu bị suy giảm do khủng hoảng nợ công cũng là một khó khăn lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Là thị trường lớn nhất trong số 129 thị trường tiêu thụ thủy sản Việt Nam, nhưng trong quý I năm nay, xuất khẩu sang EU đã sụt giảm 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, do khủng hoảng nợ công ở khu vực này khiến tình hình kinh tế tài chính khó khăn, nhu cầu nhập khẩu không ổn định và khả năng thanh toán chậm.

Tỷ trọng của thị trường EU cũng bị giảm dần gần 5% (từ 24,2% xuống còn 19,7%). Xuất khẩu 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra đều giảm mạnh (giảm từ 21,8% và 12,4%). Tuy nhiên, xuất khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc sang thị trường này vẫn khả quan (cá ngừ tăng 29%, mực, bạch tuộc tăng trên 10,7%).

Xuất khẩu tôm sú giảm, khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam cũng giảm. Đối với Việt Nam, với diện tích nuôi trên 600.000 ha, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300.000 tấn tạo cho Việt Nam thế mạnh hơn so với nhiều nước khác. Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát trên tôm sú thâm canh đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín và giá trị mặt hàng này.

Sụt giảm mặt hàng chủ lực

Năm 2011, trong hơn 97.000 ha tôm bị thiệt hại, có tới trên 82.000 ha là tôm sú nuôi thâm canh bị chết, đã ảnh hưởng lớn tới mặt hàng chủ lực này của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu tôm chân trắng năm 2011 của Việt Nam đạt 704 triệu USD, chiếm 30% tổng giá trị xuất khẩu tôm, tăng 70% so với năm 2010. Trong khi đó, giá trị tôm sú lại giảm 0,6% xuống còn 1,43 tỷ USD, chiếm 59% tổng giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam. Quý I /2012, xuất khẩu tôm tiếp tục giảm 4,7% chỉ còn 235 triệu USD. Giá tôm trên thị trường thế giới giảm tác động không nhỏ tới giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam trong quý I/2012. Mức tăng chỉ đạt 9%(so với trên 35% trong 3 tháng đầu năm 2011). Ngoài ra giá tôm giảm tạo thêm áp lực cho các doanh nghiệp tôm đang phải đối mặt với chi phí đầu vào như xăng, dầu, điện, lương nhân công… đều tăng. Đây là vấn đề báo động đối với tôm Việt Nam, vì khả năng cạnh tranh đang bị sụt giảm do giá thành sản xuất cao, dẫn đến giá chào bán cao hơn các nước.

Nhập khẩu nguyên liệu tăng

 Năm 2011, Việt Nam nhập 541 triệu USD thủy sản từ 74 nước (trong đó khoảng hơn 30 triệu USD là hàng trả về). Ba tháng đầu năm 2012, Việt Nam nhập 157 triệu USD thủy sản từ 72 thị trường, trong đó, hàng nhuyễn thể để chế biến và tái xuất chiếm khoảng 80%, còn lại là con giống và nhập khẩu để tiêu thụ nội địa. Trong bối cảnh nguồn nguyên liệu trong nước không ổn định, giá nguyên liệu cao, nhập khẩu nguyên liệu thủy sản để gia công chế biến xuất khẩu là giải pháo hữu hiệu cho doanh nghiệp duy trì sản xuất và tạo công ăn việc làm cho công nhân, tăng doanh số. Tuy nhiêm khi mà khó khăn về vốn đang là vấn đề nổi cộm của doanh nghiệp thì chính sách ân hạn thuế nhập khẩu 275 ngày càng có nguy cơ bị xóa bỏ sẽ ảnh hưởng rất nặng nề đến doanh nghiệp.

Qua diễn biến tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước hết sức khó khăn, có thể nhận diện 3 thách thức lớn của thủy sản Việt Nam là : tính bền vững của từng ngành hàng trong hoạt động sản xuất nguyên liệu và chế biến xuất khẩu thủy sản chưa cao, đặc biệt là liên kết chuỗi, quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Rào cản thương mại gia tăng trong điều kiện kinh tế thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu tăng cường bảo hộ công nghiệp nội địa. Quảng bá và tiếp thị sâu hình ảnh thủy sản Việt Nam ra thế giới theo cách chuyên nghiệp và hiệu quả trong điều kiện tài chính eo hẹp hiện nay là hết sức khó khăn.

Giải quyết khó khăn

Để giải quyết những thách thức trên, VASEP đã đề ra 3 chương trình lớn cho năm 2012-2013:

Chương trình nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, bao gồm tiến hành khảo sát chi tiết tính bền vững của từng ngành hàng tôm, cá tra, hải sản trên các mặt sản xuất nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu theo tiếp cận quản lý chuỗi giá trị, từ đó kiến nghị các chính sách cần thiết cho mục tiêu phát triển bền vững cho từng ngành hành cũng như cho cả thủy sản xuất khẩu.

Tổ chức các hoạt động liên kết nhằm hỗ trợ lực lượng sản xuất nguyên liệu vận động chính sách một cách có hiệu quả. Với chi phí đầu vào cho nuôi trồng có nhiều biến động, xu hướng phát sinh các loại dịch bệnh mới, việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong nước cần có bước đi thích hợp để đảm bảo tính bền vững và bảo vệ môi trường.

Tận dụng thế mạnh về năng lực cấp đông lớn, điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tốt nhất khu vực, công nhân lành nghề, hiệp hội VASEP sẽ phối hợp với các doanh nghiệp tiến hành khảo sát và tìm hiểu nhu cầu gia công nguyên liệu thủy sản của các nước Châu Âu và Nhật Bản nhằm thu hút được khách hàng mang nguyên liệu vào Việt Nam để gia công.

Thông qua mối quan hệ hợp tác song phương, các ngư dân và doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành hợp tác đánh bắt thủy sản, tổ chức sơ chế bảo quản ở nước ngoài mang về Việt Nam để chế biến xuất khẩu.

Kiến nghị nhà nước có chương trình đồng bộ về chất lượng và các khâu con giống, thức ăn, thuốc thú y trong hoạt động nuôi trồng thủy sản nhằm đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định giá nguyên liệu, giúp người nuôi có lãi. Tiến tới việc thiết lập hệ thống kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm toàn chuỗi đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ về tiêu chuẩn, quy phạm, quản lý tất cả các khâu từ sản xuất nguyên liệu, chế biến đến xuất khẩu.

Vận động doanh nghiệp liên kết người nuôi, thực hiện hợp đồng bao tiêu sản phẩm, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên tham gia trong quản lý chất lượng theo chuỗi, đảm bảo chất lượng của các khâu trung gian (giống, thức ăn..) nhẳm bảo vệ lợi ích cho người nuôi và hạ giá thành sản xuất, ổn định chất lượng nguyên liệu.

Chương trình vượt qua các rào cản thương mại, bao gồm phát triển hợp tác quốc tế hỗ trợ các doanh nghiệp vượt các rào cản thương mại, tìm cơ hội hợp tác, chia sẻ thông tin với đối tác nhằm hạn chế tác động của các vụ kiện chống bán phá giá, phối hợp với các nhà nhập khẩu trong công tác truyền thông, chủ động đưa thông tin đúng và phản bác các thông tin sai về thủy sản Việt Nam.

Đẩy mạnh hợp tác với các nhà nhập khẩu nhằm tìm các giải pháp vận động các nước nhập khẩu xem xét lại các quy định, tiêu chuẩn về dư lượng một cách phù hợp với thông lệ quốc tế, hạn chế những rào cản thương mại.

Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường chống gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh về giá giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh về chất lượng, nâng cao uy tín và giá trị sản phẩm thủy sản.

Chương trình quảng bá và phát triển thị trường thủy sản Việt Nam, bao gồm tích cực vận động, thiết lập các nguồn kinh phí cho hoạt động quảng bá và tiếp thị sâu hình ảnh thủy sản Việt Nam trên cơ sở nguồn đóng góp của doanh nghiệp, hỗ trợ nhà nước và biện trợ quốc tế.

Khảo sát, xây dựng các đề án cụ thể cho hoạt động xúc tiến thương mại và quảng báo hình ảnh làm cơ sở cho việc vận động các nguồn kinh phí.

Thường xuyên thực hiện các hoạt động truyền thông, cung cấp thông tin giới thiệu về hệ thống khai thác, nuôi trồng, chế biến được kiểm soát tốt, kết hợp hoạt động tiếp thị chuyên nghiệm nhằm thuyết phục người tiêu dùng tin tưởng vào chất lượng thủy sản Việt Nam và chủ động đối phó các thông tin bôi nhọ từ các thị trường nước ngoài.

Tổ chức nghiên cứu phát triển thị trường nội địa nhằm hạn chế những tác động xấu của biến động thị trường nước ngoài, đặc biệt khi kinh tế thế giới mất ổn định.

3. Dự đoán

Với kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt xấp xỉ 7 tỷ USD, tăng hơn 10,7%, năm 2013, được ghi nhận là một năm thắng lợi đối với ngành thủy sản khi duy trì được tốc độ tăng trưởng và vị trí của các đối tượng xuất khẩu chủ lực trên thị trường quốc tế.

Nhận định tình hình năm 2014, Thứ trưởng Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho rằng, biến động thị trường, dịch bệnh, thiên tai vẫn tiếp tục tác động đến ngành Thủy sản. Do đó, ngành cần có những giải pháp quyết liệt ngay từ những ngày đầu năm mới.

Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất

Theo Tổng cục Thủy sản-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2013 là năm thời tiết không thuận lợi, nhiều mưa bão, giá xăng dầu tăng làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác thủy sản. Tuy nhiên, tổng sản lượng thủy sản khai thác của cả nước ước đạt 6,05 triệu tấn, tăng 2,1% so với năm 2012; trong đó, sản lượng khai thác đạt 2,71 triệu tấn, tăng 2,2%; sản lượng nuôi trồng đạt 3,34 triệu tấn, tăng 2%.

Năm 2013, Mỹ tiếp tục là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 21,8% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản.

Điểm nổi bật nhất của xuất khẩu thủy sản là sự vươn lên bất ngờ của tôm thẻ chân trắng. Theo tổng hợp của 30 tỉnh/thành nuôi tôm nước lợ trên cả nước, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng năm 2013 đạt hơn 66 nghìn ha, tăng 57% so với năm 2012, với sản lượng đạt 280 nghìn tấn, tăng 50%.

Với những con số ấn tượng trên, lần đầu tiên tôm thẻ chân trắng vượt qua tôm sú cả về sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu. Nhờ đó, Việt Nam đã bù đắp được sản lượng tôm bị sụt giảm tại nhiều nước do dịch bệnh, trở thành nước đứng thứ 3 thế giới về sản lượng tôm. 

Giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam năm 2013 đạt mốc 2,5 tỷ USD, tăng tới hơn 33% so với năm 2012 và vươn lên chiếm tới 44% giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tôm đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm 2013.

Theo ông Võ Thành Đô, Phó Cục trưởng Cục Nông lâm thủy sản và nghề muối, có được kết quả trên do Việt Nam đã quy hoạch được vùng nuôi, kiểm soát tốt về con giống, truy suất nguồn gốc con giống, thường xuyên rà soát vùng nuôi tôm. Bên cạnh đó, nước xuất khẩu tôm chính trong khu vực là Thái Lan bị dịch bệnh tràn lan, sụt giảm sản lượng. 

Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh và bão lụt, trong khi đây là một thị trường có nhu cầu lớn về tôm. Vì vậy, mặc dù sản lượng tôm Việt Nam không tăng cao nhưng các yếu tố đó đã khiến giá tôm trên thị trường thế giới tăng từ 20-30%.

Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng trưởng của mặt hàng tôm, một số mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như cá ba sa, cá ngừ... lại có dấu hiệu giảm nhẹ. Chẳng hạn như cá ba sa giảm khoảng 5% về giá trị và sản lượng. Nguyên nhân một phần là do sản lượng xuất khẩu vào thị trường EU sụt giảm trong một thời gian dài vì các rào cản thương mại. 

Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cạnh tranh nhau về giá khiến giá cá ba sa xuất khẩu giảm. Mặt khác, hai thị trường xuất khẩu chính là Mỹ và EU cũng đã đưa ra nhiều yêu cầu về tiêu chuẩn và môi trường ngày càng khắt khe. Nhiều vùng nuôi cá tra bộc lộ những mâu thuẫn chưa được giải quyết.

Những khó khăn trên đã khiến diện tích cá tra giảm tới 17,5% về diện tích nuôi, sản lượng chỉ đạt 1,15 triệu tấn, giảm 7,6% so với năm 2012. Cùng với cá tra, tôm sú cũng là đối tượng giảm cả về diện tích và sản lượng.

Cần có những giải pháp đồng bộ

Nhận định tình hình năm 2014, Thứ trưởng Vũ Văn Tám cho biết, thị trường, dịch bệnh, thiên tai vẫn tiếp tục tác động đến ngành Thủy sản trong năm. Do đó, ngành cần tiếp tục dự báo và có giải pháp hữu hiệu để đối phó. Đặc biệt tận dụng các chính sách của Nhà nước; nhất là các chính sách về tái cơ cấu ngành Thủy sản. Đó là những tác động thuận chiều mà ngành Thủy sản có thể tranh thủ để vượt qua khó khăn và phát triển.

Tôm vẫn được xác định là mặt hàng chủ lực trong năm 2014, với diện tích tôm sú cả nước theo kế hoạch ước đạt 590.000 ha, sản lượng 270.000 tấn; tôm thẻ chân trắng 80.000 ha, sản lượng 290.000 tấn. Do đó, mặt hàng này sẽ được kiểm soát chặt chẽ để phát triển ổn định, bền vững. 

Ông Trần Đình Luân, Phó Cục trưởng Cục Thú y khuyến cáo, các địa phương nuôi tôm nước lợ cần khẩn trương lập kế hoạch phòng chống dịch bệnh, thường xuyên giám sát và dự báo tình hình, xây dựng lịch thả nuôi cho các vụ tiếp theo nhằm chủ động quản lý dịch bệnh, đảm bảo hiệu quả kinh tế toàn vụ nuôi.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, ông Nguyễn Văn Hảo cho rằng, các hộ nuôi tôm cần điều chỉnh lịch mùa vụ cho hợp lý; đồng thời, quản lý chất lượng con giống, chủ động phòng chống dịch bệnh bằng áp dụng các giải pháp kỹ thuật trong suốt quá trình nuôi nhằm phát hiện sớm dịch bệnh và có hướng xử lý phù hợp.

Dự báo sản lượng tôm thẻ chân trắng năm 2014 tăng 20% so năm 2013, ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhấn mạnh, để giữ vững thị trường, việc tăng cường quản lý hóa chất kháng sinh cấm trong nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm sẽ rất cần thiết. 

Ông Hòe khuyến cáo, các hộ nuôi cần thường xuyên cập nhật danh mục hóa chất kháng sinh cấm và phổ biến cho người nuôi, doanh nghiệp; tăng cường kiểm soát, ngăn chặn bơm chích tạp chất; đồng thời, đẩy mạnh quan hệ ngoại giao, tìm cơ hội đàm phán giải quyết hoặc giảm nhẹ rào cản thương mại từ thị trường nhập khẩu.

Các doanh nghiệp sản xuất tôm giống thì cho rằng, cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương cần đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác giám sát, kiểm tra, quản lý và xử lý nghiêm các đơn vị làm ăn bất chính, tạo được sự phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị sản xuất, nhằm cung cấp nguồn giống chất lượng, hiệu quả cao cho người nuôi.

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Nguyễn Huy Điền nhấn mạnh đến công tác xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm thủy sản, đặc biệt là cho mặt hàng cá tra trong năm 2014.

Theo đó, ngoài các thị trường truyền thống như EU, hai thị trường tiềm năng mới là Trung Quốc và Ấn Độ cần được đẩy mạnh. Ngoài ra, cá tra cần được phát triển mạnh tại cả thị trường trong nước vì trên thực tế, từ thành thị tới nông thôn đều ít xuất hiện mặt hàng này.

Bên cạnh đó, "Tổng cục Thủy sản cũng sẽ quyết liệt đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu cho hàng thủy sản Việt Nam để nâng cao giá trị xuất khẩu, giúp ngành phát triển bền vững hơn," ông Điền nhấn mạnh./.

4. Tổng quan tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2012

http://www.customs.gov.vn/lists/tinhoatdong/ViewDetails.aspx?ID=19655&Category=Th%E1%BB%91ng%20k%C3%AA%20H%E1%BA%A3i%20quan

Nguồn: VASEP